Người đóng góp cho blog

Lưu trữ Blog

Hình ảnh chủ đề của Storman. Được tạo bởi Blogger.
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghề công tác xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghề công tác xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

Cơ hội việc làm ngành công tác xã hội

- Không có nhận xét nào
Trên thực tế, ngành công tác xã hội là ngành học mới trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Ngành học này mặc dù đã được bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành chương trình khung đào tạo từ năm 2004, nhưng phải tới năm 2010 khi Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án 32 về phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 -2020 mới tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành, phát triển nghề CTXH. Tuy nhiên, vì là nghề khá mới mẻ ở Việt Nam nên nghề công tác xã hội là ngành nghề triển vọng cho sinh viên ngành Công tác xã hội sau khi ra trường
Liệu sinh viên ngành Công tác xã hội ra trường có bị thất nghiệp ?
Cơ hội việc làm ngành công tác xã hội

Sự thiếu hụt nhân lực có chuyên môn ngành Công tác xã hội

Đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta những năm gần đây thì khoảng cách giàu nghèo và các vấn nạn xã hội cũng có chiều hướng gia tăng và trở nên phức tạp hơn. Theo báo cáo của Bộ LĐTBXH, cả nước có hơn triệu người nghèo; 7.5 triệu người cao tuổi; 5.4 triệu người khuyết tật; 1.4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hơn 18.000 người nhiễm HIV; gần 170.000 người nghiện ma túy và hơn 15.000 người hoạt động mại dâm…  Yêu cầu của xã hội đặt ra cho ngành Công tác xã hội lúc này chính là phải đào tạo lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên Công tác xã hội, đồng thời  phải xây dựng đội ngũ cán bộ Công tác xã hội đã qua đào tạo và có trình độ chuyên môn cao nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội.
Ngày 25/03/2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt  Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (gọi tắt là đề án 32). Theo Đề án 32, từ năm 2010-2020, tổ chức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng để nâng cao năng lực cho 60.000 cán bộ, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội. Trong đó cần phải đào tạo và đào tạo lại 35.000 cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và đại học (bình quâng là 3500 người/ năm); Tập huấn kỹ năng cho 25.000 cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội (bình quân 2.500 người/năm. Như vậy, nhu cầu nhân lực có trình độ chuyên môn về CTXH ở nước ta là rất lớn.
cong-tac-xa-hoi-nhung-dieu-can-biet

Sinh viên ngành Công tác xã hội ra trường có thể làm việc ở đâu?

Sau khi ra trường, cử nhân ngành Công tác xã hội có trình độ chuyên môn có thể làm việc tại:
  • Các cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngành lao động, thương binh và xã hội
  • Các cơ sở y tế từ trung ương tới địa phương
  • Các cơ sở cung ứng dịch vụ CTXH, các trường học, các trung tâm tham vấn và thực hành CTXH trong các lĩnh vực sức khỏe tâm thần, giáo dục, pháp luật, kinh tế, truyền thông, văn hóa, xã hội, môi trường
  • Các cơ sở nghiên cứu và đào tạo thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, các trung tâm đào tạo, kiểm huấn công tác xã hội.

Có thể học ngành Công tác xã hội ở đâu ?

Theo thống kê năm 2013, cả nước hiện có chưa tới 40 trường đại học, cao đẳng đào tạo chuyên ngành Công tác xã hội. Có thể kể tên một số trường đào tạo ngành này như:
Các trường Đại học: ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH quốc gia Hà Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Công đoàn, ĐH Lao động Xã hội, ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, ĐH Mở TP Hồ Chí Minh, ĐH Khoa học Huế,…
Các trường Cao đẳng: Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội, Cao đẳng Sư phạm Trung ương, Cao đẳng Sư phạm Hà Nam, Cao đẳng Sư phạm Hoà Bình, Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình, ...
Bất kỳ một ngành nghề nào cũng đòi hỏi bạn phải có không chỉ kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà còn cần phải có niềm đam mê với nghề. Đặc biệt với ngành Công tác xã hội, các bạn bạn phải là một người có lòng nhân ái và có trái tim bao dung , bởi bạn sẽ là người giúp đỡ các cá nhân, các nhóm và cộng đồng chịu thiệt thòi trong xã hội để họ tự vươn lên giải quyết những khó khăn trong cuộc sống. Ngoài ra, sinh viên ngành Công tác xã hội cũng cần có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có sức khoẻ để tiếp tục đi trên con đường mà mình đã lựa chọn.

Liên hệ và nộp hồ sơ ĐKXT học ngành công tác xã hội tại Hà nội

Địa chỉ trụ sở chính: Tân Lập – Đan Phượng – Hà Nội
Điện thoại: 04.3362.8666 – 0928.88.99.00
Website: www.htt.edu.vn
Văn phòng Tuyển sinh – Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội
Địa chỉ: Số 2 Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.3767.9555 – 0949.099.919

ĐĂNG KÝ XÉT TUYỂN CAO ĐẲNG CHÍNH QUY

[ninja_form id=5]

Các thông tin chi tiết hơn về ngành Công tác xã hội tại đây:

Thứ Ba, 27 tháng 12, 2016

Tăng cường nhân lực ngành công tác xã hội

- Không có nhận xét nào
Ở Việt Nam, Công tác xã hội là nghề đã có từ lâu nhưng phải đến năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án 32 công nhận nghề này là một nghề nghiệp của Quốc gia, đồng thời, Đề án 32 đã đưa ra các chính sách phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020. Sau vài năm triển khai thực hiện bước đầu Đề án 32 đã gặt hái được nhiều thành công, tuy nhiên cũng có không ít khó khăn vướng mắc. Một trong số những khó khăn mà các địa phương gặp phải khi triển khai Đề án là sự thiếu hụt nhân lực ngành có chuyên môn, dẫn tới thực trạng cung không đủ cầu. Yêu cầu đặt ra lúc này là làm sao để triển khai đề án hiệu quả, cũng như nâng cao chất lượng và chuyên môn của nhân lực nghề Công tác xã hội.
Bài toán khó cho nhân lực ngành Công tác xã hội
Tăng cường nhân lực ngành Công tác xã hội

Thiếu nhân lực có chuyên môn ngành Công tác xã hội

Theo thống kê của Bộ Lao động thương binh xã hội, năm 2010 nước ta có khoảng cả nước có hơn triệu người nghèo; 7.5 triệu người cao tuổi; 5.4 triệu người khuyết tật; 1.4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hơn 18.000 người nhiễm HIV; gần 170.000 người nghiện ma túy và hơn 15.000 người hoạt động mại dâm…  Hiện cả nước có 500 cơ sở bảo trợ xã hội dành cho người già cô đơn, trẻ mồ côi, người khuyết tật, người nhiễm độc da cam và các trung tâm dành cho người nghiện ma túy, những người từng hành nghề mại dâm cùng nhiều đối tượng khác cần tới sự bảo vệ trợ giúp của các nhân viên công tác xã hội. Do đó, nhu cầu nhân lực nghề Công tác xã hội ở nước ta là rất lớn.
Cũng theo một thống kê khác của bộ Lao động thương binh và xã hội vào năm 2014 thì cả nước ta hiện có khoảng 35.000 người hoạt động CTXH thì chỉ có 8,5% các cán bộ, nhân viên, cộng tác viên Công tác xã hội được đào tạo đúng chuyên ngành, đa phần trong số này là cán bộ giảng dạy và làm việc ở cấp Trung ương. Con số này quá khiêm tốn so với nhu cầu mà xã hội đang cần.
Bên cạnh đó, còn một số vấn đề bất cập trong việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành Công tác xã hội là đội ngũ cán bộ, nhân viên và cộng tác viên Công tác xã hội còn quá mỏng và chưa chuyên nghiệp. Thay vì hướng dẫn, hỗ trợ cung cấp dịch vụ công cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, nhằm giúp đỡ họ tự giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh thì, các hoạt động nhóm ngành này lại mang nặng tính quản lý nhà nước hơn. Chính vì vậy, nhân lực ngành Công tác xã hội rơi vào tình trạng thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn nghiệp vụ, chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng cần trợ giúp.
cong-tac-xa-hoi-nhung-dieu-can-biet

Cần tăng cường nhân lực cho ngành Công tác xã hội

Để nâng cao số lượng và chất lượng nhân lực ngành Công tác xã hội, Nhà nước đã phân bổ ngân sách trung ương về các tỉnh, thành phố nhằm phục vụ cho công tác tổ chức tập huấn nâng cao năng lực, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên Công tác xã hội, đào tạo tại chức hệ vừa học vừa làm. Tính đến năm 2014, cả nước có 30.000 cán bộ, nhân viên Công tác xã hội đã được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực; tổ chức đào tạo cho khoảng 13.000 người theo hệ vừa học vừa làm trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; phối hợp với các địa phương để tổ chức đào tạo 135 giảng viên dạy nghề Công tác xã hội cho các trường Cao đẳng, trung cấp trong cả nước; đào tạo 4 lớp với 160 cán bộ, quản lý Công tác xã hội cấp cao…
Đồng thời, chú trọng vào công tác tuyển sinh, đào tạo sinh viên ngành Công tác xã hội trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trên cả nước. Ở nước ta hiện nay có 42 trường đào tạo chính quy công tác xã hội và mỗi năm có khoảng 2.500 cử nhân công tác xã hội chính quy. Tuy nhiên, theo nhận định thì số lượng trên là chưa đủ để đáp ứng được yêu cầu xã hội, còn quá ít trong khi nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực là rất lớn.
Với một người có nhiều năm làm công tác bảo trợ xã hội ở Bộ Lao động, thương binh và Xã hội (LĐTB&XH), Tiến sỹ Nguyễn Hải Hữu - Cục trưởng Cục Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em cho rằng cần xác định rõ vị trí làm việc và tiêu chuẩn hoá một số chức danh cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, cán bộ làm công tác bảo trợ xã hội thuộc khối cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương; một số chức danh ở các cơ sở cung cấp dịch vụ Công tác xã hội, một số tổ chức đoàn thể xã hội, tổ chức phi chính phủ có liên quan đến cung cấp dịch vụ Công tác xã hội phải đạt trình độ đào tạo đại học hoặc cao đẳng công tác xã hội. Trong công tác tuyển dụng phải luôn ưu tiên những người được đào tạo bài bản có trình độ đại học, cao đẳng về công tác xã hội vào các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp, ngành, cơ sở cung cấp dịch vụ Công tác xã hội, để họ có cơ hội sử dụng những kiến thức đã học vào thực tế công tác. Tránh tình trạng, học một nghề làm một nghề, người có chuyên môn lại không thể chen chân, gây lãng phí.

Liên hệ và nộp hồ sơ ĐKXT học ngành Công tác xã hội tại Hà nội

Địa chỉ trụ sở chính: Tân Lập – Đan Phượng – Hà Nội
Điện thoại: 04.3362.8666 – 0928.88.99.00
Website: www.htt.edu.vn
Văn phòng Tuyển sinh – Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội
Địa chỉ: Số 2 Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.3767.9555 – 0949.099.919

ĐĂNG KÝ XÉT TUYỂN CAO ĐẲNG CHÍNH QUY

[ninja_form id=5]

Tìm hiểu chi tiết hơn về ngành Công tác xã hội tại đây:

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2016

Trong lĩnh vực y tế Công tác xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng

- Không có nhận xét nào

Trong lĩnh vực y tế, Công tác xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội đã tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa người bệnh với người thân, giữa người bệnh với những người xung quanh, giữa người bệnh với nhân viên y tế . Đây là một biện pháp đang được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn để giải quyết mâu thuẫn giữa người bệnh với cơ sở y tế.

Vai trò của công tác xã hội trong lĩnh vực y tế
Trong lĩnh vực y tế Công tác xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng

Vai trò của công tác xã hội trong các cơ sở y tế

Tại các cơ sở y tế, tình trạng thường xuyên quá tải đã đẩy mối quan hệ giữa bệnh nhân và nhân viên y tế trở nên căng thẳng hơn, khi nhân viên y tế không có đủ thời gian để giải quyết hết những câu hỏi cũng như hướng dẫn cặn kẽ các thủ tục cho bệnh nhân. Lúc này, đội ngũ Công tác xã hội giữ vai trò quan trọng, góp phần hỗ trợ về vật chất, tâm lý và xã hội giữa bệnh nhân và người nhà bệnh nhân với nhân viên y tế và cơ sở y tế, với môi trường xã hội trong chẩn đoán và hỗ trợ điều trị bệnh, hỗ trợ việc kết nối các dịch vụ y tế với các dịch vụ thuộc lĩnh vực khác.
Nhiều năm trở lại đây, mô hình Công tác xã hội và đội ngũ tình nguyện viên được một số bệnh viện tuyến trung ương áp dụng trong việc hỗ trợ bệnh nhân, cán bộ y tế trong phân loại, tư vấn, giới thiệu dịch vụ, hỗ trợ chăm sóc… Mô hình này đã góp phần giảm tải những khó khăn trong quá trình khám, điều trị tại các bệnh viện. Một trong số các bệnh viên đầu tiên áp dụng mô hình này là bệnh viện nhi Trung ương, khi đã thành lập tổ Công tác xã hội. Mô hình được được đánh giá là hiệu quả vì đội ngũ Công tác xã hội đã trở thành cầu nối giữa người bệnh và cán bộ y tế, tích cực vận động xã hội chung tay góp phần chia sẻ để vơi đi nỗi đau về thể xác, đem lại cho các em những niềm vui, những nụ cười, trợ giúp để giảm bớt những khó khăn với gia đình các cháu bé đang điều trị. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình Công tác xã hội chính là các hoạt động được triển khai bởi một số cá nhân có tâm huyết chứ chưa có trong cơ chế tổ chức của ngành. Đội ngũ cán bộ tham gia mô hình chưa có kinh nghiệm do chưa được đào tạo, bồi dưỡng bài bản về kiến thức, kỹ năng Công tác xã hội.
cong-tac-xa-hoi-nhung-dieu-can-biet

Để phát triển Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế cần đồng bộ nhiều giải pháp

Từ thực tế có thể thấy Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế là nhân tố quan trọng để thúc đẩy phát triển bền vững trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Theo bà Hoàng Thị Bích Hường – Quyền giám đốc Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán bộ dân số - y tế, Bộ Y tế cho rằng: Để Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế phát triển cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp: Trước hết là nâng cao nhận thức về Công tác xã hội cho bệnh nhân, người dân; đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng Công tác xã hội cho cán bộ y tế. Sau đó cần xây dựng mạng lưới cán bộ Công tác xã hội y tế, xây dựng mô hình Công tác xã hội tại các cơ sở y tế, hợp tác trao đổi kinh nghiệm trong nước và quốc tế…
Với mục tiêu đề ra, Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán bộ dân số - y tế đã xây dựng dự thảo đề án phát triển Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2010-2020. Đề án được xây dựng với mục tiêu nhằm hình thành và phát triển nghề Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe. Theo đó, các hoạt động chủ yếu của đề án là: Nâng cao nhận thức của cán bộ y tế, bệnh nhân và người dân; xây dựng mô hình điểm và phát triển mạng lưới Công tác xã hội tại cơ sở y tế; đào tạo bồi dưỡng cán bộ y tế có nghiệp vụ Công tác xã hội, xây dựng chương trình, tài liệu giảng dạy Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế; xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế; thực hiện nghiên cứu khoa học; hợp tác trao đổi kinh nghiệm trong nước và quốc tế.
Như vậy có thể nói, ngành Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế đã có một hướng đi rõ ràng. Nếu thực hiện tốt đề án, Công tác xã hội sẽ góp phần không nhỏ vào công cuộc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Bạn có thể tìm hiểu chi tiết hơn về ngành Công tác xã hội tại đây:

Hiệu quả đạt được từ những mô hình dịch vụ Công tác xã hội

- Không có nhận xét nào
Đạt hiệu quả gì từ những dịch vụ công tác xã hội chăm sóc đối tượng tại cộng đồng
Hiệu quả đạt được từ những mô hình dịch vụ Công tác xã hội
Ở nhiều nước trên thế giới, Công tác xã hội có chiều hướng phát triển thành dịch vụ tại cộng đồng và góp phần cải thiện tính hiệu quả của dịch vụ phúc lợi xã hội. Hầu hết, cơ cấu các dịch vụ Công tác xã hội có sự kết hợp của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ. Tuy nhiên, ở mỗi nước khác nhau thì mối quan hệ này sẽ khác nhau phụ thuộc vào lịch sử phát triển của hệ thống phúc lợi xã hội, yếu tố văn hóa, xã hội và kinh tế, chính trị của mỗi nước. Ở Việt Nam, các mô hình dịch vụ Công tác xã hội được thực hiện tại cấp chính quyền địa phương và đã đạt được những hiệu quả nhất định.
Tại hội nghị chuyên đề về bảo trợ xã hội diễn ra ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định vào đầu tháng 12 vừa qua, các mô hình dịch vụ Công tác xã hội hoạt động hiệu quả như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Long An, Bến Tre, Khánh Hòa, Thái Nguyên… đặc biệt được quan tâm. Trong buổi hội nghị, tất cả các vấn đề đã được các đại biểu đặt lên bàn thảo luận nhưng thảo luận sâu nhất là về ngành Công tác xã hội.

Một số mô hình dịch vụ Công tác xã hội đạt hiệu quả

Tại đây, bà Trương Thị Như Hoa, giám đốc Trung tâm Công tác xã hội Đà Nẵng đã có những chia sẻ về mô hình dịch vụ Công tác xã hội tại Đà Nẵng - Là một trong những mô hình dịch vụ Công tác xã hội hoạt động hiệu quả. Bà cho biết: Đến nay Đà Nẵng đã triển khai thành công 3 mô hình dịch vụ Công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng đồng và đạt hiệu quả cao, gồm: mô hình “3 trong 1”- Với 3 hoạt động lồng ghép được thực hiện từ năm 2015, đó là đánh giá sàng lọc và phát hiện sớm trẻ có biểu hiện rối nhiễu tâm trí tại các trường mầm non, hỗ trợ kỹ năng chăm sóc cho phụ huynh và TGXH cho gia đình trẻ có hoàn cảnh khó khăn.
Qua đó đã sàng lọc được hơn 500 trẻ và phát hiện ra 50 trẻ cần can thiệp sớm; mô hình CLB sống độc lập dành cho trẻ chậm phát triển, down; mô hình hỗ trơ người tâm thần có cuộc sống hòa nhập với cộng đồng phối kết hợp trợ giúp họ học nghề và tạo việc làm cho họ.
Bà Trương Thị Như Hoa cũng khẳng định, tính nhân văn sâu sắc chính là một trong những hiệu quả tích cực từ các mô hình dịch vụ Công tác xã hội của trung tâm Công tác xã hội Đà Nẵng. Những thay đổi trong nhận thức và thái độ tích cực của cộng đồng đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần đã tạo nên một diện mạo mới cho công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng.
Bà cũng đã chỉ ra một yếu tố quan trọng khác đã tạo nên hiệu quả của mô hình này là sự tham gia tích cực của gia đình. Khi gia đình có nhận thức đúng về vấn đề và tham gia tích cực vào quá trình hỗ trợ sẽ đem lại nhiều kết quả khả quan.
Ngoài Trung tâm Công tác xã hội Đà Nẵng, một mô hình Công tác xã hội sáng tạo nữa phải kể đến là trung tâm Công tác xã hội Thái Nguyên, với đa dạng các mô hình tư vấn, hỗ trơ, chăm sóc đối tượng tại cộng đồng. Theo chia sẻ của bà Phùng Thị Thơm, Giám đốc Trung tâm Công tác xã hội Thái Nguyên, để có thể đạt hiệu quả cao, Trung tâm đã tập trung “mũi nhọn vào đầu tư nhân lực, với đội ngũ cán bộ đã có chuyên môn cao và được đào tạo bài bản về Công tác xã hội.
Tính đến nay, với đội ngũ chuyên nghiệp, Trung tâm Công tác xã hội Thái Nguyên đã triển khai hoạt động can thiệp, hỗ trợ cho trên 1.000 đối tượng. Đồng thời, Trung tâm cũng đã năng động trong việc triển khai tổng đài 1800 8080 để tiếp nhận nhanh chóng và kịp thời khoảng gần 9.700 ca có nhu cầu được cung cấp các thông tin, kỹ năng, kiến thức…đối phó khi đối tượng cần sự trượ giúp. Với người dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thì tổng đài 1800 8080 đang là địa chỉ tin cậy khi cần trợ giúp.
cong-tac-xa-hoi-nhung-dieu-can-biet

Các mô hình dịch vụ Công tác xã hội vẫn còn gặp nhiều khó khăn

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, đại diện các địa phương, các trung tâm Công tác xã hội cũng nêu lên những khó khăn chung mà hầu hết các Trung tâm trên cả nước đang gặp phải, đó là  sự thiếu hụt về nhân lực, cộng tác viên Công tác xã hội. Đội ngũ Công tác xã hội chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm nên thời gian dành cho công tác này còn hạn chế. Ngoài ra, sự hiểu biết của người dân về lĩnh vực TGXH chưa cao; Do chưa có lộ trình, hướng dẫn cụ thể nên hoạt động phát triển cộng đồng nhằm nâng cao năng lực, nhận thức cho người dân còn nhiều khó khăn; Khuôn khổ pháp luật để phát triển nghề Công tác xã hội chưa rõ ràng…
Trước những thành công và khó khăn vướng mắc mà các đại diện địa phương, các trung tâm đã trình bày, Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội Nguyễn Văn Hồi chia sẻ, về cơ bản các mục tiêu cụ thể mà đề án 32 đã đề ra đều đã đạt được, trong đó có mục tiêu phát triển các dịch vụ Công tác xã hội, góp phần trợ giúp cho các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo và các đối tượng khác tiếp cận, thụ hưởng các chính sách phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục học nghề, tìm việc làm để ổn định cuộc sống. Cho nên, ông Hồi cho rằng nhất thiết phải “cởi trói” cho các trung tâm BTXH, đa dạng hóa nguồn thu, có như vậy mới cải tiến được chất lượng dịch vụ, đáp ứng được nhu cầu lớn cả người dân.

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Cần làm gì để phát triển nghề Công tác xã hội ?

- Không có nhận xét nào
Đi cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề xã hội ngày càng gia tăng như: Bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em, người già neo đơn, nạn nghiện hút, mại dâm,... Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần phát triển một hệ thống công tác xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội này, cùng với đó, một khuôn khổ pháp luật là cần thiết để hình thành hệ thống CTXH chuyên nghiệp.
Chính vì vậy, ngày 15/11, Hội thảo đề xuất xây dựng Luật Công tác xã hội do Bộ Lao động Thương binh Xã hội (LĐTBXH) cùng với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (Unicef) tại Việt Nam diễn ra tại Hà Nội.
Theo số liệu thống kê của Bộ LĐTBXH, hiện nay cả nước có khoảng 25% dân số thuộc diện bảo trợ xã hội, cần được trợ giúp bởi các cán bộ công tác xã hội. Cụ thể, các đối tượng cần sự trợ giúp của nhân viên CTXH gồm 7,5 triệu người cao tuổi; 5,4 triệu người khuyết tật; 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khoảng 12% hộ gia đình nghèo, hơn 180.000 người bị nhiễm HIV được phát hiện…Vì vậy, một trong những mục tiêu quan trọng của Đề án Phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (Đề án 32) cần được chú trọng và thực hiện ngay đó là Việt Nam cần phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội và nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp.
Phát triển nghề Công tác xã hội cần tạo cơ sở pháp lý
Càm làm gì để phát triển nghề Công tác xã hội

Hiện trạng Công tác xã hội ở Việt Nam

Theo đề án 32, đến năm 2020, Việt Nam cần đào tạo mới và đào tạo lại 60.000 nhân viên Công tác xã hội với các trình độ khác nhau. Còn theo ông Tô Đức, Phó Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội (Bộ LĐTBXH), sau 5 năm triển khai đề án 32, đến nay cả nước đã hình thành và phát triển được 413 cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập, trong đó có gần 40 trung tâm công tác xã hội chuyên sâu.
Hiện nay, trong cả nước có khoảng hơn 20 trường đào tạo trình độ đại học, cao đẳng Công tác xã hội. Gần 100.000 cán bộ, nhân viên làm việc trong các lĩnh vực như: y tế, giáo dục, tư pháp, các trung tâm bảo trợ xã hội… được đào tạo, tập huấn để xây dựng mạng lưới công tác viên nghề công tác xã hội nhằm mục đích giúp đỡ người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn cần được hỗ trợ từ cộng đồng.
Đối tượng chăm sóc của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội là những người có hoàn cảnh khó khăn, những người mong muốn nhận được sự che chở, bảo vệ và giúp đỡ từ xã hội… Chính vì vậy, bên cạnh kiến thức chuyên môn, người làm nghề công tác xã hội cần phải trau dồi thêm nhiều kỹ năng mềm (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng thuyết trình…), trau dồi đạo đức nghề nghiệp bởi đây là nghề rất cần đến tấm lòng nhân ái.

Phát triển nghề Công tác xã hội cần tạo khuôn khổ pháp luật

Trong thời đại hội nhập, nghề công tác xã hội ngày càng phát triển. Điều đó đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý đầy đủ nhằm tạo môi trường thuận lợi để nghề công tác xã hội có thể phát triển, hỗ trợ giải quyết những vấn đề xã hội đang nảy sinh ngày càng nhiều.
Ông Jesper Moller, Phó trưởng Đại diện Unicef tại Việt Nam chia sẻ: Kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới đã cho thấy vai trò, chức năng và sứ mệnh của người làm nghề công tác xã hội phải được quy định rõ ràng trong một khung pháp lý với những tiêu chuẩn cụ thể: tiêu chuẩn đạo đức, tiêu chuẩn nghề, các quy trình cấp giấy phép và hành nghề công tác xã hội…
Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Lao động thương binh và Xã hội cho hay: Trong năm 2016 – 2017, Dự kiến Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ nghiên cứu và xây dựng và hoàn thiện nội dung Luật về nghề Công tác xã hội, nghiên cứu và đánh giá tác động của Luật đến các hoạt động của ngành. Dự kiến trong năm 2018, Luật Công tác xã hội sẽ đưa vào đăng ký chương trình xây dựng luật và pháp lệnh của Quốc hội.

Tìm hiểu kỹ hơn các thông tin về ngành Công tác xã hội tại đây:

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2016

Công tác xã hội với phụ nữ và trẻ em

- Không có nhận xét nào
Hiện nay, bạo hành phụ nữ và trẻ em đang là vấn nạn nhức nhối gây bức xúc trong dư luận, bởi nó đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng về thể xác lẫn tinh thần cho nạn nhân. Đây cũng là hồi chuông cảnh tỉnh cho mỗi chúng ta về sự suy thoái những giá trị đạo đức, hành vi có văn hóa của con người trong xã hội hiện đại ngày nay. trước những tác động của nạn bạo hành phụ nữ và trẻ em, nhân viên công tác xã hội có thể cung cấp một số dịch vụ xã hội để hỗ trợ nạn nhân. Chính vì vậy, Công tác xã hội có vai trò quan trọng trong việc chống lại nạn bạo hành phụ nữ và trẻ em.
Ngày 10/11/2016, Hội thảo khoa học quốc tế về Công tác xã hội với chủ đề “Công tác xã hội với phụ nữ và trẻ em – Kinh nghiệm của một số quốc gia” được tổ chức bới Học viện Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia.
Chia sẻ kinh nghiệm của một số quốc gia về Công tác xã hội với phụ nữ và trẻ em
Công tác xã hội với phụ nữ và trẻ em
Hội thảo có tới trên 300 đại biểu là các chuyên gia, nhà nghiên cứu và giảng dạy Công tác xã hội từ các cơ quan, tổ chức thuộc các quốc gia: Nga, Vương quốc Anh, Mỹ, Úc, cùng với các đại biểu đang làm việc tại các cơ quan, tổ chức tại Việt Nam các viện nghiên cứu và các trường đại học trong và ngoài nước; Hội LHPN Việt Nam, các trung tâm đào tạo, Sở LĐ-TB&XH, các cơ sở bảo trợ xã hội, các cơ quan báo chí, truyền hình. Đặc biệt có sự tham dự của bà Hasanthi Urugodawatte Dissanayake - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Sri Lanka tại Việt Nam.
Hội thảo được tiến hành bởi ban chủ trì gồm có: TS. Trần Quang Tiến - Giám đốc Học viện Phụ nữ Việt Nam; TS. Antonina Dashkina - Chủ tịch Hiệp hội nghề CTXH Liên bang Nga; bà Nguyễn Thị Hằng - Nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Hiệp hội Dạy nghề và Nghề CTXH Việt Nam; TS. Nguyễn Hải Hữu - Chủ tịch Hiệp hội các trường đào tạo nghề CTXH Việt Nam; TS. Bùi Thị Mai Đông - Trưởng khoa CTXH, Học viện Phụ nữ Việt Nam.
Các chủ đề được thảo luận trong 3 phiên của Hội thảo bao gồm: Phiên chung với các chủ đề “Luật pháp chính sách và đào tạo nguồn nhân lực công tác xã hội với phụ nữ và trẻ em”; 2 chủ đề là “Công tác xã hội với phụ nữ” và “Công tác xã hội với trẻ em” đươc thảo luận tại hai phiên song song.

Phiên chung với chủ đề " Luật pháp chính sách và đào tạo nguồn nhân lực công tác xã hội với phụ nữ và trẻ em”

Tại phiên hội thảo chung, các vấn đề như đào tạo trình độ đại học, cao đẳng Công tác xã hội trong các trường đai học, cao đẳng hiện nay và những định hướng trong thời gian tới; Phương pháp “Con đường cong” trong vấn đề bạo lực gia đình: Hỗ trợ cho phụ nữ và trẻ em – những người phải chịu đựng bạo lực/lạm dụng trong gia đình; Điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực Công tác xã hội ở Liên bang Nga và Ucraina; Sức khỏe tâm thần trẻ em và thanh thiếu niên: Chương trình đào tạo ban đầu cho các nhân viên Công tác xã hội Việt Nam đều được các đại biểu đưa ra và tập trung trao đổi.

Phiên hội thảo " Công tác xã hội với phụ nữ"

Tiếp đó là phiên hội thảo với chủ đề “Công tác xã hội với phụ nữ”, tại đây, các đại biểu đã nghe tham luận và chia sẻ về các nội dung: ứng phó với bạo lực gia đình – bài học kinh nghiệm từ Úc; Thưc trạng hoạt động hỗ trợ việc làm cho phụ nữ nghèo tại Yên Bái – Tiếp cận theo hướng nâng cao năng lực; Giới trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam: Từ chính sách đến thực tiễn; Quyền của phụ nữ và công tác xã hội với việc bảo vệ quyền của phụ nữ bị mua bán.

Phiên hội thảo với chủ đề " Công tác xã hội với trẻ em"

Cùng với đó, các nội dung chính được thảo luận trong phiên hội thảo có chủ đề “Công tác xã hội với trẻ em” là Công tác xã hội với trẻ em - Thực trạng và giải pháp; Các mô hình hỗ trợ, chăm sóc trẻ em ở cộng đồng; Dịch vụ chăm sóc thay thế theo hình thức nhận nuôi đỡ đầu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (thực trạng, xu hướng ở Việt Nam và những quy định trong Luật trẻ em 2016); Những nguyên tắc phổ quát trong chăm sóc trẻ em ở Vương quốc Anh; Tham vấn nhóm trong CTXH đối với trẻ em có khó khăn tâm lý sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội.
Kết thúc 3 phiên, Hội thảo khoa học quốc tế Công tác xã hội với phụ nữ và trẻ em – Kinh nghiệm của một số quốc gia đã diễn ra thành công và  đạt được các mục tiêu đề ra là nhằm tăng cường học hỏi, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với cộng đồng trong nước và quốc tế về việc thúc đẩy, phát triển nghề Công tác xã hội chuyên nghiệp, hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp xã hội, cung cấp dịch vụ Công tác xã hội đối với các nhóm đối towngj yếu thế, đặc biệt là nhóm phụ nữ và trẻ em.
Nhìn chung, thông qua buổi hội thảo, việc tiếp nhận, chia sẻ, học hỏi những kinh nghiệm của các chuyên gia công tác xã hội trong và ngoài nước sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành Công tác xã hội Việt Nam cũng như quá trình chuyên nghiệp hóa ngành Công tác xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

Để hiểu hơn về ngành Công tác xã hội, bạn có thể tham khảo tại đây:

Phát triển nguồn nhân lực ngành Công tác xã hội

- Không có nhận xét nào
Bảo đảm an sinh xã hội trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước bởi một xã hội phát triển bền vững là một xã hội có sự cân đối hài hòa giữa phát triển kinh tế với các vấn đề an sinh xã hội. Để làm được điều này cần đến một đội ngũ nhân lực có kiến thức và kỹ năng về công tác xã hội.
Trước hết cần hiểu Công tác xã hội là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn, yếu thế hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội: người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già... Sứ mệnh của ngành Công tác xã hội là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu những rào cản trong xã hội, sự bất công và sự bất bình đẳng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Công tác xã hội

Tình trạng chung nguồn nhân lực ngành Công tác xã hội

Ngành Công tác xã hội đã phát triển thành một nghề chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam thì nghề Công tác xã hội mới chỉ ở bước đầu hình thành, chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên mọi phương diện. Phần lớn những người làm Công tác xã hội đều chưa được đào tạo bài bản, thiếu kiến thức và kỹ năng về Công tác xã hội. Chính vì vậy, việc giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề cá nhân, gia đinh, nhóm và cộng đồng dân cư chưa đạt hiệu quả cao, thiếu tính bền vững.
Với mục tiêu phát triển Công tác xã hội thành một nghề chuyên nghiệp ở Việt Nam, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội gia đoạn 2010-2020 (quyết định 32/2010/QĐ-TTg , gọi tắt là Đề án 32) và đầu tư 2.347 tỉ đồng để thực hiện Đề án này. Đồng thời, công nhận Công tác xã hội là một ngành khoa học, một nghề  chuyên môn với việc ban hành mã ngành đào tạo và mã số ngạch viên chức. Theo Đề án 32, có tới 40% dân số cần trợ giúp của các dịch vụ Công tác xã hội, trên cả nước có hơn 32.000 cán bộ, nhân viên, cộng tác viên làm việc trong lĩnh vực Công tác xã hội, tuy nhiên chỉ có 81.5% chưa qua đào tạo.
Tiến sĩ Nguyễn Hải Hữu – Nguyên Cục trưởng cục Bảo trợ xã hội cho biết: Ở nước ta hiện nay, số cán bộ, nhân viên trực tiếp làm việc ở các cơ sở bảo trợ xã hội, số lao động tự do trực tiếp chăm sóc người già ở các gia đình, bệnh viện cũng lên tới gần chục nghìn người; số cộng tác viên làm công tác dân số và bảo vệ chăm sóc trẻ em ở các thôn, bản lên tới 162.000 người. Trừ số cán bộ đã được đào tạo ở trình độ đại học và cao đẳng Công tác xã hội, còn lại hầu hết chưa qua đào tạo cơ bản. Họ chỉ được tham gia vào các lớp tập huấn ngắn hạn nâng cao kỹ năng và hiểu biết về Công tác xã hội.

Công tác xã hội - Nghề cần chuyên môn và đạo đức

Bản chất của nghề Công tác xã hội là cung cấp dịch vụ cho người dân và nhân viên công tác xã hội là người phục vụ chứ không phải là người chủ. Những đối tượng có hoàn cảnh đặc biêt là đối tượng cần được chăm sóc sức khỏe, cần được bảo vệ, che chở… Nhân viên Công tác xã hội không những cần phải có kiến thức chuyên môn mà còn cần phải được đào tạo nhiều về kỹ năng mềm. Đặc biệt, nhân viên Công tác xã hội cũng cần có đạo đức nghề nghiệp bởi đối tượng mà họ chăm sóc, phục vụ là những người đặc biệt.
cong-tac-xa-hoi-nhung-dieu-can-biet

Cơ hội việc làm ngành Công tác xã hội

Là một ngành mới ở Việt Nam, nhưng cơ hội việc làm ngành Công tác xã hội lại rất lớn. Sinh viên tốt nghiệp ngành Công tác xã hội có thể làm việc ở nhiều cơ quan khác nhau như: Tại các cơ quan của ngành Lao động Thương binh và xã hội các cấp từ Trung ương đến địa phương; các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội thuộc các lĩnh vực như: Y tế, giáo dục, pháp luật, phúc lợi xã hội… Ngoài ra, bạn có thể làm việc độc lập với vai trò là kiểm huấn viên, nhà nghiên cứu, hay cán bộ hoạch định chính sách xã hội, nhân viên xã hội
Mặc dù, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành khung chương trình đào tạo ngành Công tác xã hội bậc đại học và bậc cao đẳng từ năm 2004 nhưng phải tới khi đề án 32 được ban hành năm 2010 thì mới tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành, phát triển nghề Công tác xã hội. Từ đó, nghề Công tác xã hội mới chính thức được công nhận và được đưa vào đào tạo một cách bài bản, ngày càng được chuyên nghiệp hóa. Việc Bộ Nội vụ đã ban hành chức danh, mã ngạch viên chức Công tác tác xã hội được coi là bước khởi đầu mở ra một nghề mới đầy tiềm năng trên thị trường lao động.
Ngành nghề mới mở ra mang lại nhiều cơ hội việc làm, nhưng đó cũng là thách thức lớn cho công tác đào tạo nguồn nhân lực Công tác xã hội đáp ứng nhu cầu xã hội cả về số lượng và chất lượng. Theo thống kê, hiện nay cả nước có chưa tới 40 trường đại học, cao đẳng đào tạo chuyên ngành này, tuyển sinh hàng năm chỉ khoảng 2000 sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội. Mặt khác, đội ngũ giảng viên Công tác xã hội có bằng tiến sĩ và thạc sĩ lại rất ít, chỉ có khoảng 30-40 người, thậm chí có trường chưa có. Bên cạnh những khó khăn về nhân lực đó, công tác đào tạo nghề Công tác xã hội còn gặp một số khó khăn khác như: Chưa có nhiều tài liệu về ngành, chương trình đào tạo nặng về lý thuyết, thiếu đội ngũ giảng viên thực hành chuyên nghiệp, thiếu cơ sở thực hành chuyên nghiệp… Tất cả những khó khăn trên đã cản trở sự phát triển của ngành Công tác xã hội theo đúng nghĩa và có một khoảng cách khá lớn nếu so sánh tính chuyên nghiệp của Công tác xã hội ở nước ta với các nước phát triển và ngay cả với các nước trong khu vực.

Bổ sung thông tin về ngành Công tác xã hội tại đây: